Kênh TV và video học IT - Trăm nghe không bằng một thấy - Trở thành chuyên gia theo cách của bạn.
+ Trả lời chủ đề
Hiện kết quả từ 1 tới 5 của 5

Chủ đề: NGN - Các anh chị đi trước giúp em với ạ!

  1. #1
    Thành viên mới Avatar của Thái Hùng
    Tham gia ngày
    02-04-09
    Tuổi
    25
    Bài gửi
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc định NGN - Các anh chị đi trước giúp em với ạ!

    Thưa các anh chị!
    Hiện tại, em đang làm đồ án tốt nghiệp về vấn đề:" Quản Lý trong mạng NGN". Tuy nhiên, em đang băn khoăn về khá nhiều vấn đề. Vậy, mong các anh chị có kinh nghiệm về vấn đề này giúp đỡ em, để em có thể hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp của mình. Em xin chân thành cảm ơn!
    Sau đây là một số vấn đề mong nhận được hồi âm trả lời của các anh chị:
    1. Mạng viễn thông hiện tại còn những vấn đề yếu kém gì?
    2. Tại sao nên nâng cấp lên NGN, có những đặc điểm gì tiến bộ hơn?
    3. Công nghệ chính của NGN là công nghệ Softswitch (chuyển mạch mềm) đúng không ạ? Còn công nghệ nào khác không ạ? Hiện đang áp dụng công nghệ nào trên thực tế?
    4. Các giao thức báo hiệu và điều khiển của mạng NGN là gì?
    5. Tình hình triển khai NGN trên thế giới, và tại Việt Nam. (Cái này anh chị cho em xin thông tin mới chút nha!)
    Ngoài ra, anh chị có thể cho em xin một số Website của Việt Nam cũng như nước ngoài, và một số tài liệu liên quan tới công nghệ NGN ạ.
    Em xin chân thành cảm ơn!
    Lần sửa cuối bởi Thái Hùng; 02-04-09 lúc 17:42

  2. #2
    Thành viên năng nổ Avatar của tuankit
    Tham gia ngày
    04-09-08
    Đến từ
    HN
    Tuổi
    58
    Bài gửi
    57
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc định

    hỏi thằng google bạn ui,post lên diễn đàn làm cái j

  3. #3
    Thành viên mới Avatar của Dungnm
    Tham gia ngày
    18-06-09
    Tuổi
    31
    Bài gửi
    5
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc định

    Mạng thế hệ tiếp mới NGN: Công nghệ và triển vọng

    Cụm từ “mạng thế hệ tiếp theo” (Next Generation Networks- NGN) bắt đầu được nhắc tới từ năm 1998 như là đại diện cho sự định nghĩa lại ngành công nghệ thông tin và viễn thông thế giới; một cuộc cách mạng dẫn tới việc sáp nhập âm thanh, dữ liệu, truyền tải (tranmission) và tính toán (computing).


    1. Mạng thế hệ tiếp theo là gì?

    NGN là bước tiếp theo trong lĩnh vực truyền thông thế giới, truyền thống được hỗ trợ bởi 3 mạng lưới: mạng thoại PSTN, mạng không dây và mạng số liệu (Internet). NGN hội tụ cả 3 mạng trên vào một kết cấu thống nhất để hình thành một mạng chung, thông minh, hiệu quả cho phép truy xuất toàn cầu, tích hợp nhiều công nghệ mới, ứng dụng mới và mở đường cho các cơ hội kinh doanh phát triển.

    Có thể đề cập tới ba loại hình dịch vụ thúc đẩy sự ra đời của NGN: Dịch vụ truyền thông thời gian thực (real-time services) và phi thời gian thực (non real-time services); dịch vụ nội dung (content services) và các hoạt động giao dịch (transaction services). Đến lượt mình, NGN tạo điều kiện để các nhà cung cấp dịch vụ tăng cường khả năng kiểm soát, tính bảo mật, và độ tin cậy trong khi giảm thiểu được chi phí vận hành.

    Được xây dựng trên tiêu chí mở, các giao thức chuẩn và giao diện thân thiện, NGN đáp ứng được hầu hết các nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng: doanh nghiệp, văn phòng, liên lạc giữa các mạng máy tính v.v... NGN thống nhất mạng hữu tuyến truyền thống và chuẩn truyền tải âm thanh, hình ảnh, dữ liệu không dây.

    Công nghệ mạng NGN chính là chìa khoá giải mã cho công nghệ tương lai, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu kinh doanh trên với đặc điểm quan trọng là cấu trúc phân lớp theo chức năng và phân tán các tiềm năng trên mạng, làm cho mạng mềm hoá và sử dụng rộng rãi các giao diện mở đa truy nhập, đa giao thức để kiến tạo các dịch vụ mà không phụ thuộc quá nhiều vào các nhà cung cấp thiết bị và khai thác mạng.

    2. Đã đến lúc phải bàn tới việc triển khai NGN

    NGN "xuất đầu, lộ diện" bởi đã có nhiều thay đổi trong những năm qua xét từ 3 giác độ chính: cấu trúc ngành công nghiệp, công nghệ và mong đợi từ phía người dùng.

    Thứ nhất, sự bùng nổ của ngành công nghệ thông tin và viễn thông, một lớp các nhà cung cấp dịch vụ mới dần xuất hiện: các nhà cung cấp dịch vụ mang tính cạnh tranh muốn khẳng định vị trí của mình trên thị trường. Ví dụ, nhiều nhà cung cấp dịch vụ lựa chọn triển khai các công nghệ mới nhất nhằm giành thế "thượng phong" trong việc tung ra dịch vụ.

    Thứ hai, công nghệ đang phát triển với tốc độ chóng mặt. Đơn cử, công nghệ nhận dạng giọng nói, công nghệ chuyển đổi từ chữ sang âm (TTS) v.v.. cũng khiến mạng truyền thống buộc phải nhường đường cho NGN trong việc tích hợp các ứng dụng cao cấp hơn, vì mục tiêu phục vụ tốt nhất người sử dụng.

    Thứ ba, mạng Internet đã "gieo hy vọng" cho đông đảo người dùng rằng họ có thể lấy thông tin ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào họ muốn. Xuất phát từ chính nhu cầu này đã nảy sinh xu thế "hội tụ" của các thiết bị đầu cuối cho hỗ trợ được đầy đủ các tính năng như liên lạc, truy xuất thông tin, giải trí v.v... trong khi vẫn đảm bảo được tính di động. Mạng Internet chắc chắn sẽ vẫn đóng vai trò là nguồn cung cấp thông tin chính. Tuy nhiên, mạng truyền tải đóng vai trò trung gian chắc chắn sẽ phải là NGN.

    3. Thách thức trong việc triển khai mạng NGN

    a. Thách thức về chất lượng dịch vụ

    Tích hợp âm thanh, dữ liệu… trong một mạng lưới yêu cầu đảm bảo chất lượng âm thanh được truyền tải cũng như yêu cầu đặt ra đối với việc truyền tải dữ liệu. Đây thực sự là một thách thức khó khăn về mặt công nghệ vì đơn cử, mạng dữ liệu không được thiết kế dành riêng phục vụ truyền tải âm thanh.

    Bộ định tuyến Internet không có nỗ lực đặc biệt nào để đảm bảo rằng các cuộc gọi sẽ đảm bảo tính đồng đều về mặt chất lượng truyền tải. Bộ định tuyến chỉ giúp phân luồng các gói tin càng nhanh càng tốt. Chính vì vậy, từng gói tin phải chịu độ trễ khác nhau, đôi khi thất lạc- ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng âm thanh.

    b. Thách thức về quản lý

    Hiện tại xã hội con người phụ thuộc rất nhiều vào mạng điện thoại. Chúng ta luôn có cảm giác yên tâm rằng bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể nhấc máy và gọi những số khẩn cấp như chữa cháy hoặc cảnh sát. Tuy nhiên, rất ít người có đủ “gan” để giao phó tính mạng mình cho mạng Internet. Những trục trặc sẽ không là gì khi xảy ra trong một phạm vi hẹp nhưng sẽ trở thành “vấn đề” khi được triển khai áp dụng ở quy mô lớn.

    c. Thách thức trong quá trình chuyển tiếp

    Thách thức thực sự nằm ở nhu cầu đảm bảo sự truyển tiếp “êm thấm” từ mạng truyền thống sang NGN. Một trong những trở ngại điển hình là tính tương thích giữa mạng mới ra đời và mạng đã triển khai.

    d. Thách thức về bảo mật

    Thách thức về bảo mật xuất phát một phần ngay ở cơ chế phân tầng ứng dụng (layering of applications), bao gồm thoại, dữ liệu…. Trong mạng PSTN, các câu lệnh được truyền tải trong các mạng tín hiệu riêng biệt nên dễ kiểm soát. Trong khi đó đối với NGN vì hầu hết các cổng (gateway) đều có khả năng truyền tải âm thanh và dữ liệu. Bên cạnh đó, về nguyên tắc nội dung được truyền tải trong mạng còn được chia sẻ trên toàn cầu. Chính sự hoà trộn này khiến công tác bảo mật “gian khổ” hơn nhiều.

    e. Thách thức về kinh tế

    Triển khai mạng NGN phát sinh thách thức về mặt kinh tế đối với các nhà cung cấp dịch vụ mà gốc rễ của vấn đề là sự tụt giá liên tục của băng thông. Hiện tại, hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ đều khai thác trên mạng đã tồn tại sẵn, một thời gian sau khi mạng mới triển khai, việc giao tiếp tốc độ cao - thời gian thực trở nên phổ biến thì người dùng sẽ đặt ra yêu cầu được sử dụng miễn phí.

    Đa phần các nhà cung cấp dịch vụ nhìn thấy xu thế và triển vọng của NGN. Tuy nhiên, họ lại bị trói buộc trước thực trạng nhu cầu thực tại đối với NGN đang là rất thấp. Để có đầu tư, họ phải đảm bảo 2 yếu tố đó là vốn đầu tư dư giả và sự kiên trì ("đợi thời"). Nhà cung cấp cũng còn e ngại về độ "chín" của công nghệ sẽ trợ giúp họ trong quá trình chuyển sang NGN. Trong quá trình chờ đợi, nhà cung cấp buộc phải liên tục nâng cấp công nghệ, thiết bị để đảm bảo tính cạnh tranh. Chính vì vậy, khó mà "dốc toàn lực" để chuyển sang NGN.

    4. Nhìn ra thế giới

    Công ty Gartner dự báo bắt đầu từ năm 2005, thị trường cho việc triển khai mạng NGN sẽ bắt đầu "khởi sắc".Trong vòng vài năm tiếp sau đó, thoại qua giao thức Internet (VoIP) và NGN sẽ có khả năng hỗ trợ tới mức tối đa các định dạng giao dịch ngốn nhiều băng thông nhất.

    Gartner Dataquest đã hoàn thành một công trình nghiên cứu toàn diện, đề cập tới nhiều khía cạnh mang tên "State of the Next-Generation Network" (tạm dịch: Trạng thái của mạng thế hệ tiếp theo). Công trình nghiên cứu các bước chuyển biến mà NGN đã đạt được, xác định những xu thế chính và giới thiệu khá chi tiết về 141 tổ chức phát triển NGN trên thế giới.

    Được giao "trọng trách" đối với ngành công nghiệp mạng trong thế kỷ 21, NGN ngày càng giành được nhiều sự quan tâm, chú ý và đã được coi là quốc sách tại nhiều quốc gia. Trong bối cảnh đó, Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về mạng thế hệ tiếp theo (Global NGN Summuit) đã diễn ra từ ngày 26 - 28/4/2004 tại Bắc Kinh (Trung Quốc).

    Hội nghị lần này mang chủ đề "Joint Efforts to Build the Future Next Generation Network" (tạm dịch: cùng nỗ lực xây dựng mạng thế hệ tiếp theo). Được biết, đây là hội nghị thượng đỉnh đầu tiên tập trung được số lượng đông đảo các chuyên gia về NGN tới từ nhiều quốc gia trên thế giới.

    Các đại biểu tham dự hội nghị đã thảo luận nhiều vấn đề liên quan tới triển vọng của NGN, tựu trung lại nhằm vào 3 vấn đề chính: xu thế về công nghệ (technology trends), cuộc cách mạng về mạng lưới (network evolution) và cấu trúc mô hình kinh doanh (business modules).

    Được biết, nước chủ nhà trước đó cũng đã Trung Quốc đã thử nghiệm mạng Internet thế hệ tiếp theo (China Next Generation Internet- CNGI) và coi đây là bước phát triển quan trọng tiến tới xây dựng NGN. Dự án có sự tham gia của 5 tập đoàn viễn

    thông lớn nhằm xây dựng mang bao phủ 6 tỉnh với băng thông xương sống (backbone) đạt 10 Gbs/s.

    5. Mạng NGN ở Việt Nam

    Tháng 12/2003, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã lắp đặt xong giai đoạn 1 mạng viễn thông thế hệ mới - New Generation Network (NGN) và đã đi vào vận hành thành công. Đây là mạng có hạ tầng thông tin duy nhất dựa trên công nghệ chuyển mạch gói (packet- switch), được VNPT chọn lựa để thay thế công nghệ chuyển mạch kênh (circuit -switch). Đây là mạng sử dụng công nghệ chuyển gói với đặc tính linh hoạt, ứng dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin và công nghệ truyền dẫn quang băng rộng nên tích hợp được dịch vụ thoại và dịch vụ truyền số liệu.

    Song song với việc thiết lập lớp chuyển tải trục và vùng, VNPT đã và đang gấp rút triển khai lớp truy nhập của mạng NGN với các Media Gateway và hệ thống băng rộng công nghệ xDSL hỗ trợ các kết nối ADSL và SHDSL. Với hạ tầng mạng xDSL này, VNPT đã cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng MegaVNN tại nhi ều tỉnh, thành phố trên cả nước. Dự kiến đến năm 2005, cả nước sẽ có khoảng 180.000 cổng xDSL.

  4. #4
    Thành viên mới Avatar của Dungnm
    Tham gia ngày
    18-06-09
    Tuổi
    31
    Bài gửi
    5
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc định

    Bản chất và những ứng dụng chính của chuyển mạch mềm trong mạng NGN Việt Nam

    Cùng với sự phát triển của các công nghệ viễn thông, hệ thống chuyển mạch mềm ra đời với các tính năng ưu việt, khắc phục được phần lớn các hạn chế của hệ thống chuyển mạch kênh truyền thống. Hệ thống chuyển mạch mềm đã trở thành một thành tố quan trọng bậc nhất trong mạng thế hệ mới NGN. Bài viết đi sâu phân tích những ứng dụng căn bản nhất của chuyển mạch mềm với mong muốn lấy đó làm nền tảng để phát triển các dịch vụ mới ưu việt hơn nữa dựa trên hệ thống chuyển mạch mềm...


    I. Bản chất chuyển mạch mềm
    Trong tương lai, mạng thế hệ mới NGN sẽ hoàn toàn dựa trên cơ sở hạ tầng là mạng gói. Do mạng PSTN hiện tại vẫn hoạt động tốt và cung cấp dịch vụ khá tin cậy (99,999%) nên việc chuyển cả mạng truy nhập và mạng lõi của PSTN thành mạng gói là rất tốn kém. Để tận dụng cơ sở hạ tầng của PSTN và ưu điểm của chuyển mạch gói, cấu hình mạng NGN bao gồm chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói được thể hiện như trong hình sau:


    Cấu trúc mạng NGN

    Theo hình trên, tổng đài cấp 5 (tổng đài nội hạt) dùng chuyển mạch kênh (circuit-switched) thể hiện qua phần mạng PSTN vẫn được sử dụng. Phần phức tạp nhất trong những tổng đài này chính là phần mềm xử lý gọi. Phần mềm này chạy trên một bộ xử lý chuyên dụng được tích hợp sẵn với phần cứng vật lý chuyển mạch kênh. Hay nói cách khác, phần mềm sử dụng trong các tổng đài nội hạt phụ thuộc vào phần cứng của tổng đài. Điều này gây khó khăn cho việc tích hợp mạng PSTN và mạng chuyển mạch gói khi xây dựng NGN.

    Một giải pháp để giải quyết vấn đề này là tạo ra một thiết bị lai (hybrid device) có thể chuyển mạch thoại ở cả dạng kênh và gói với sự tích hợp của phần mềm xử lý gọi. Điều này được thực hiện bằng cách tách riêng chứcnăng xử lý cuộc gọi khỏi chức năng chuyển mạch vật lý. Thiết bị đó chính là bộ điều khiển cổng phương tiện MGC sử dụng chuyển mạch mềm (soft switch). Hay nói cách khác chuyển mạch mềm chính là thiết bị thực hiện việc xử lý cuộc gọi trong mạng NGN.

    II. Các ứng dụng chính của chuyển mạch mềm

    1. Ứng dụng làm SS7 PRI Gateway (giảm tải Internet)

    Ứng dụng này nhằm vào các nhà khai thác dịch vụ thoại cạnh tranh, những doanh nghiệp đang tìm kiếm một giải pháp giá thành thấp thay cho chuyển mạch kênh truyền thống để cung cấp giao diện PRI (Primary Rate Interface - Giao diện tốc độ bít cơ sở) cho các nhà cung cấp dịch vụ Internet phục vụ các đường truy nhập dial-up.

    2. Giảm tải các tổng đài chuyển tiếp

    Giải pháp chuyển mạch TDM hiện nay đang bộc lộ dần nhược điểm trước nhu cầu ngày càng tăng nhưng rất thất thường của lưu lượng thông tin thoại nội hạt (phát sinh do truy nhập Internet), vô tuyến và đường dài.Ứng dụng Packet Tandem hướng vào các nhà cung cấp dịch vụ thoại truyền thống với mong muốn giảm vốn đầu tư và chi phí điều hành các tổng đài quá giang chuyển mạch kênh hiện nay, ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ mới về số liệu.

    III. Kết luận
    Trong những năm gần đây, vai trò của chuyển mạch mềm trong mạng thế hệ mới NGN đã được minh chứng rõ nét ngay tại Việt Nam thông qua các tiện ích mà nó mang lại. Đó chính là các cuộc gọi VoIP, đó là những dịch vụ trên nền NGN như multimedia, mạng riêng ảo VPN với chất lượng cao, giá thành thấp. Tuy nhiên đây mới chỉ là sự khởi đầu của chuyển mạch mềm, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, phát triển các ứng dụng mới để chuyển mạch mềm xứng đáng là “trái tim” của mạng NGN tại Việt Nam.

    Chúc bạn thành công với một đồ án tốt.

  5. #5
    Thành viên mới Avatar của Dungnm
    Tham gia ngày
    18-06-09
    Tuổi
    31
    Bài gửi
    5
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Mặc định

    Công nghệ NGN và những ứng dụng linh hoạt

    Khimôi trường kinh doanh đang ngày càng phức tạp và mang tính cạnh tranhcao, chất lượng dịch vụ trở thành chìa khóa cho sự thành công thì nhucầu sở hữu các dịch vụ truyền thông mới với nhiều tiện ích cũng khôngngừng tăng lên...

    Công nghệ NGN ra đời hộitụ cả 3 mạng: mạng thoại, mạng không dây và mạng số liệu vào một kếtcấu thống nhất để hình thành một mạng chung, thông minh, hiệu quả chophép truy xuất toàn cầu, tích hợp nhiều công nghệ mới, ứng dụng mới vàmở đường cho các cơ hội kinh doanh phát triển, đang ngày càng thỏa mãnđược nhu cầu của người sử dụng.

    Mạng Thế hệ mới (NGN) là gì?

    Những ứng dụng cần nhiềubăng thông như giáo dục truyền hình, ứng dụng truyền hình trực tuyếntrong y học, thuyết trình trực tuyến yêu cầu mạng có khả năng đáp ứngmạnh để có thể truy cập dễ dàng và mọi lúc mọi nơi. Những mạng viễnthông như vậy, dựa trên nguyên lý chạy đa dịch vụ thông qua một cơ sởhạ tầng chung thống nhất, được biết là Mạng Thế hệ mới (NGN). Nó là mộtmạng duy nhất, kế thừa cho hầu hết các mạng truyền thoại và dữ liệutách biệt ngày nay.

    Kiến trúc phân lớp của mạng NGN được phân hoạch thành 3 phân lớp chính:

    1. Phân lớp Truyền dẫn và Mạng truy nhập

    2. Phân lớp Mạng chuyển mạch trục (Backbone CORE)

    3. Phân lớp Điều khiển và Dịch vụ (service & network control)

    Khi nói đến mạng NGN lànói đến “dịch vụ” chứ không phải như cách xây dựng mạng truyền thống làchú trọng vào xây dựng những mạng riêng lẻ, mỗi một dịch vụ sẽ phải xâydựng một mạng dùng riêng, ví dụ như mạng thoại TDM, mạng di động, mạngtruyền số liệu... Chính vì vậy mà các tiêu chí cho mạng hội tụ để đảmbảo chi phí đầu tư thấp nhất phải là:

    Xây dựng một mạng hội tụ đa dịch vụ trên một nền tảng mạng duy nhất;

    Cung cấp các dịch vụ mạng riêng ảo an ninh lớp 2,lớp 3, các dịch vụ multi- media và data với các cam kết chất lượng dịchvụ SLA;

    Giải pháp mở và tương thích khi tích hợp dịch vụ;

    Bảo vệ đầu tư, dễ dàng mở rộng nâng cấp mạng.

    Ngoài các dịch vụ hiệntại như thoại, mạng NGN cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu như hội nghịtruyền hình và các dịch vụ ứng dụng đa phương tiện khác với yêu cầubăng thông đến hàng chục Mbps cho một người dùng. Đặc điểm chính củamạng NGN là có khả năng cung cấp tất cả các dịch vụ băng rộng theo yêucầu với các mức dịch vụ khác nhau. Ngoài ra, mạng NGN tích hợp côngnghệ di động băng thông rộng, vì vậy nó cho phép người dùng có thể traođổi thông tin dịch vụ băng rộng bất chấp họ đang sử dụng máy tính đểbàn hay thiết bị hỗ trợ số cá nhân (PDA) để lướt Internet từ taxi.

    Mạng NGN vật lý bao gồmnhiều đường truyền bằng sợi quang, phát chuyển dữ liệu dạng gói tin màcó thể hỗ trợ cho nhiều dịch vụ đồng thời. Các thành phần của mạng NGN(như switch hay router) có thể hoạt động với nhiều cấu hình mạng khácnhau, với nhiều giao thức khác nhau – giống như doanh nghiệp có thể nóinhiều thứ tiếng khác nhau đồng thời.

    Mạng NGN và công nghệ MPLS

    Một sự kỳ diệu nữa củamạng NGN là có thể được phát triển bởi các nhà khai thác mới không yêucầu có sẵn cơ sở hạ tầng hay chỉ cần nâng cấp, mở rộng trên cấu trúcmạng sẵn có. Ngày nay, MPLS (chuyển mạch nhãn đa giao thức) là kỹ thuậtđược công nhận cho mạng hội tụ ở Việt Nam sau khi có sự đánh giá kỹcàng các mạng ATM, RPR và các mạng khác. MPLS đã có một bước phát triểnrất dài bởi cộng đồng MSF và IETF. MPLS đang dẫn đầu về các mức linhhoạt, tính đảm bảo và an toàn mà ngày nay chưa có một công nghệ nàokhác có thể thỏa mãn được.

    MPLS cho phép các nhàcung cấp dịch vụ tách biệt việc kiểm soát lưu thông mạng dựa trên yêucầu của ứng dụng. MPLS còn có khả năng cho phép ứng dụng tự động yêucầu tài nguyên mà chúng cần sử dụng trên hạ tầng mạng. Tuy nhiên, chấtlượng mạng chỉ dựa vào một mình MPLS và IP thì không đủ, do vậy tínhthông minh cộng thêm (Intelligent Network) là cần thiết để đảm bảo chấtlượng, bảo mật, kế toán và thanh toán cho dịch vụ mới. Việc kiểm soáttốt hơn cũng là điều cần thiết cho phép nhà cung cấp dịch vụ có thểkiểm soát lưu thông trên mạng.

    Có thể nói rằng, côngnghệ mạng NGN chính là chìa khoá giải mã cho công nghệ tương lai, đápứng được đầy đủ các yêu cầu kinh doanh trên với đặc điểm quan trọng làcấu trúc phân lớp theo chức năng và phân tán các tiềm năng trên mạng,làm cho mạng mềm hoá và sử dụng rộng rãi các giao diện mở đa truy nhập,đa giao thức để kiến tạo các dịch vụ mà không phụ thuộc quá nhiều vàocác nhà cung cấp thiết bị và khai thác mạng.

    Sự tiến bộ trong côngnghệ, sức cạnh tranh mạnh mẽ và một môi trường phát triển thông thoángsẽ làm thay đổi tận gốc nền kinh tế truyền thông thoại, dữ liệu và dịchvụ video. Một cách tương ứng, các nhà cung cấp dịch vụ cũng đang thayđổi mô hình kinh doanh của mình một cách mạnh mẽ, không chỉ hạ giáthành sản phẩm dịch vụ mà còn tạo ra những dòng doanh thu khác biệt,mới mẻ. Công nghệ NGN đã giúp nhà cung cấp dịch vụ, các nhà cung cấptruyền hình cáp, các nhà cung cấp dịch vụ di động,… hội tụ kiến trúc hạtầng mạng, gia tăng thêm vào tính thông minh để có thể cung cấp cácdịch vụ cao cấp.

    NGN gia nhập thị trường công nghệ Việt Nam

    Việt Nam là một thịtrường có tốc độ phát triển mạnh tại châu Á với số lượng khách hàng sửdụng các dịch vụ băng rộng tăng từng ngày.

    Tháng 12/2003, VNPT đãlắp đặt xong giai đoạn 1 mạng viễn thông thế hệ mới NGN và đã đi vàovận hành thành công. Đây là mạng hạ tầng thông tin duy nhất dựa trêncông nghệ chuyển mạch gói (packet-switch), được VNPT chọn lựa để thaythế công nghệ chuyển mạch kênh (circuit-switch). Juniper Networks lànhà cung cấp và triển khai mạng NGN/MPLS cho VNPT. Đây là mạng sử dụngcông nghệ chuyển gói MPLS với đặc tính linh hoạt, ứng dụng những tiếnbộ của công nghệ thông tin và công nghệ truyền dẫn quang băng rộng nêntích hợp được dịch vụ thoại và dịch vụ truyền số liệu. Song song vớiviệc thiết lập lớp chuyển tải trục và vùng, VNPT đã triển khai lớp truynhập của mạng NGN với các Media Gateway và hệ thống băng rộng công nghệxDSL hỗ trợ các kết nối ADSL và SHDSL. Với hạ tầng mạng xDSL này, VNPTđã cung cấp dịch vụ truy nhập Internet băng rộng MegaVNN tại nhiềutỉnh, thành phố trên cả nước. Việc ứng dụng công nghệ NGN của VNPT đãđánh dấu một tiêu chuẩn mới cho các nhà cung cấp dịch vụ khác như Viễnthông Điện lực (EVN Telecom), Viettel, SPT, Công viên Phần mềm QuangTrung (QTSC), Khu Công nghệ cao Sài Gòn (SHTP)... để phát triển mạngdịch vụ của mình.

    Lợi ích lớn từ NGN/MPLS

    Sự chuyển biến kiến trúcmạng này, không giới hạn ở các nhà cung cấp dịch vụ công cộng mà ngaycả các doanh nghiệp/tổ chức lớn cũng chuyển hóa. Ví dụ như Bộ Tàichính. Mạng của Bộ Tài chính là hệ thống mạng khá phức tạp, phục vụ chonhiều phân hệ, ban ngành trong Bộ, cũng giống như mạng của các nhà cungcấp dịch vụ viễn thông VNPT, EVN Telecom, Viettel... Chính vì vậy,thiết kế cho mạng của Bộ Tài chính phải là tối ưu, ổn định, kiểm soáttập trung, an ninh, an toàn và bảo mật, đồng thời phải có độ tươngthích cao giữa các thiết bị mới và thiết bị sẵn có. Và Bộ Tài chính đãđi đến quyết định ứng dụng mạng NGN được thiết kế với công nghệ MPLShiện đại.

    Nhu cầu của Bộ Tài chínhtrong việc xây dựng mạng tích hợp đa dịch vụ được thể hiện tóm tắt nhưsau: Xây dựng tổng thể một mạng tích hợp đa dịch vụ, kết nối tới 64tỉnh thành và tích hợp với hệ thống mạng hiện tại. Kết nối vật lý chủyếu dựa trên các luồng leased-line và MPLS VPN, ngoài ra còn có cácđường truyền dẫn cáp quang với băng thông FE/GE cho một số mạng LAN vàcampus tại HCM/HNI. Tổ chức mạng sẽ được chia thành 3 trung tâm miền.Trung tâm dữ liệu (Data Center) và vận hành mạng NOC sẽ tập trung tạiHà Nội và TP. HCM. Thiết kế cũng phải đề cập đến giải pháp tích hợp vàchuyển đổi mạng hiện tại thành một mạng thống nhất... Hiện nay, Bộ Tàichính vẫn đang triển khai công nghệ NGN tại các tỉnh thành trong cảnước và bước đầu đã thu được những lợi ích lớn. Dự kiến, dự án xây dựnghệ thống hạ tầng truyền thông MPLS của Bộ Tài chính, do hãng bảo mậtJuniper Networks triển khai, sẽ hoàn thành vào tháng 9/2007.

    Vừa qua, Pacific Airlinesđã làm một cuộc cách mạng trong hoạt động kinh doanh của mình, từ sửdụng vé giấy đến chuyển hoàn toàn sang TMĐT ở tất cả các khâu: đặt chỗ,mua vé, in vé, thanh toán… hoàn toàn qua mạng Internet. Bước ngoặt nàyđã mang lại cho Pacific Airlines một nguồn lợi lớn. Hiện nay, PacificAirlines đang sở hữu một hệ thống bán vé hiện đại nhất Việt Nam vớiphần mềm của Navitaire và hạ tầng mạng của Juniper Networks. Việc ứngdụng công nghệ MPLS hiện đại với thiết bị tường lửa SSG của Juniper đãmang lại cho Parcific Airlines những hiệu quả như độ sẵn sàng cao trêntoàn hệ thống với việc dự phòng trên thiết bị, đường truyền. Điều nàynhằm đảm bảo hệ thống thư tín, các giao dịch điện tử cũng như các ứngdụng khác luôn trong tình trạng sẵn sàng, giảm thiểu các sự cố ngắtmạng nên đáp ứng tối đa nhu cầu kinh doanh cho Pacific Airlines; Kếtnối an toàn cho các chi nhánh cố định sử dụng môi trường Internet, giảmchi phí… Đối với người dùng từ xa hay các chi nhánh đặt tại Đài Bắc, ÚcChâu… giao diện người dùng luôn tạo cảm giác thân thiện, giúp nhân viênđăng nhập mạng một cách dễ dàng mà không cần cài đặt máy tính phức tạp,hay mất công đào tạo...

    Hệ thống ngân hàng tạiViệt Nam cũng đang dần dần triển khai mạng thế hệ mới NGN. Techcombank– ngân hàng đầu tiên ứng dụng CNTT vào hoạt động cũng lựa chọn côngnghệ NGN với những ứng dụng linh hoạt. Theo ông Nguyễn Vân, Phó phòngCNTT của Techcombank, ngân hàng này đã có ứng dụng hệ thống NGN vàomạng lưới giao dịch của Techcombank từ năm 2006 và đã sử dụng sản phẩmcủa hãng Juniper. Cho đến thời điểm hiện tại, hệ thống NGN ứng dụng kháhiệu quả trong việc phát triển mạng lưới của Techcombank:

    Thứ nhất, về tiết kiệm chi phí thì công nghệ NGN tiết kiệm được khoảng 50% so với các công nghệ cũ.

    Thứ hai, về độ linh hoạt thì công nghệ NGN có thể giúp cho Techcombank phát triển mạng lưới rất đơn giản và nhanh chóng.

    Sau Techcombank, các ngânhàng khác như VPBank, Habubank, BIDV, Ngân hàng Phát triển Việt Nam,Ngân hàng NN&PTNT… cũng ứng dụng công nghệ NGN vào hệ thống mạng hạtầng cơ sở.

    Công nghệ NGN đã tạo ra cơ hội giảm thiểu chi phí trong sản xuất kinh doanh và tăng khả năngcạnh tranh cao trong môi trường kinh doanh hiện nay. Với việc sử dụngcác thiết bị nhỏ thích hợp hơn và tốn ít năng lượng hơn, tiết kiệm nhânlực, tiết kiệm chi phí hàng ngày, đặc biệt là những tiện ích về quản lýchất lượng tốt và rất hiệu quả khi cho kết nối phân tán nhưng lại tậptrung vào một mối, NGN/ MPLS đã trở thành sự lựa chọn tối ưu cho các tổchức và doanh nghiệp tại đất nước hơn 85 triệu dân này.

    Hy vọng với một loạt bài viết này sẽ giúp bạn có một vài kiến thức để phục vụ cho việc làm bài đồ án tốt nghiệp.
    Goodluck!
    Nguyễn Mạnh Dũng
    Mobile: 0936.849717

+ Trả lời chủ đề

Thông tin chủ đề

Users Browsing this Thread

Hiện có 1 người đọc bài này. (0 thành viên và 1 khách)

     

Chủ đề tương tự

  1. Trả lời: 2
    Bài cuối: 01-04-09, 09:28
  2. FINAL,mong các thầy và các bạn giúp đỡ
    Gửi bởi khi_phach_nam_nhi113 trong mục Thảo luận chung
    Trả lời: 1
    Bài cuối: 12-03-09, 19:55
  3. muốn xin tài liệu để ôn thi trước MCSA
    Gửi bởi ductiep trong mục Microsoft
    Trả lời: 1
    Bài cuối: 07-03-09, 09:46
  4. Hàng ngàn trang web âm nhạc VN trước nguy cơ xoá sổ!
    Gửi bởi daikabeo trong mục Tin tức công nghệ
    Trả lời: 2
    Bài cuối: 19-01-09, 00:28
  5. Ai giúp về DHCP với !!!
    Gửi bởi ballfire1 trong mục Thảo luận chung
    Trả lời: 6
    Bài cuối: 13-01-09, 11:22

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
muagi.vn