Nghĩ đến Windows Media server đôi khi nghe có vẽ vượt ngoài khả năng ít ra là đối với một số bạn mới bước vào lỉnh vực IT, tuy nhiên nếu ta tiến xa hơn một bước tìm hiểu và thử nghiệm thế nào là streaming và có cần thiết phải thiết lập Windows Media server hay không và tại sao không thể stream từ web server? Và nếu có thể thì trong trường hợp nào cần thiết để thiết lập Windows Media server? Để trả lời những thắc mắc này các bạn có thể lược sơ qua vài tính chất giữa hai dạng server.
Streaming from a Windows Media server VS. Web server
Thật ra nếu chỉ để streaming một bản nhạc, một đọan phim thì Web server cũng có thể đảm nhiệm việc streaming này bằng giao thức ứng dụng trong Windows Media server là mms:// hay giao thức chuẩn RTSP:// mà không cần phải xây dựng hay thiết lập Windows Media server. Tuy nhiên, Windows Media server được thiết kế đặt biệt và chuyện dụng dành cho streaming các dạng Windows Media files trong khi các Web server thông thường không được thiết lập để hổ trợ các tính năng chuyên dụng này dành cho streaming. Nếu chúng ta quyết định dùng Web server như là cách để streaming, thì nên nhận thức các sự khác biệt sau đây có thể làm ảnh hướng đến chất lượng playback của media contents.
Phương pháp gởi dử liệu sẽ khá khác biệt giữa Web server và Windows Media server. Web server được thiết kế để gởi dử liệu cànng nhiều càng nhanh càng tốt. Đây là phương pháp tối ưu cho việc gởi các hình ảnh tĩnh và text hoặc scripts phục vụ cho việc thể hiện trang web càng nhanh càng tốt, trong khi phương pháp này sẽ hoàn toàn không phù hợp trong môi trường streaming media contents là vì đối với việc streaming, điều tối cần thiết là các dử liệu phải được gởi đi ở dạng "real time" có nghĩa là phải sống động chứ không cần nhận một lần với một số lượng dử liệu khổng lồ trong khi player không kịp giải quyết.
Với việc sử dụng Windows Media server trong việc streaming các Windows Media contents, những ưu điểm có thể nhận được đó là nó sẽ tự điều chỉnh các gói thông tin chuyển đi căn cứ trên các thông tin nó nhận ngược lại hay gọi là "Feedback information" trong quá trình gởi dử liệu tới player và căn cứ vào sự thiết lập một vài nét đặc trưng như Fast Start hay Fast Cache. Khi player nhận được các gói thông tin theo cách này, thì sự trình bày hay việc thể hiện lại các media files sẽ liên tục cũng như sẽ êm ái hơn và có thể tránh các hình ảnh bị méo và nhảy ngược. Một ưu điểm khác trong việc ứng dụng Windows Media server thay vì web server đó là sự hổ trợ nhiều users cùng truy cập một lúc trong khi vẫn giữ được độ ổn định hay hạn chế việc interuptions và vẫn có thể tiết kiệm được băng thông rất nhiều so với dùng Web server, vì sao? Chúng ta cũng đã biết băng thông luôn là ưu và khuyết điểm quan trọng quyết định trong việc cung cấp các dịch vụ trên internet.
Một khác biệt nữa trong việc sử dụng Web server và Windows Media server cho streaming là Web server không hổ trợ Multiple-bit-rate (MBR) video. Khi stream một file từ Web server, chất lượng dử liệu gởi đi hoàn toàn không được quản lý và theo dõi vì vậy nó không thể điều chỉnh bit rate cho phù hợp điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng playback trong suốt quá trình và thời gian streaming và sẽ tạo ra những khó khăn cho các users.
Thêm vào đó Web server không sử dụng giao thức thích hợp thường dùng cho việc streaming media đó là giao thức UDP (User Datagram Protocol), vì vậy quá trình streaming sẽ phần nhiều bị gián đoạn bởi những khoảnh khắc im lặng trong lúc chờ đợi player buffer dử liệu.
Tất cả những gì vừa đề cập ở trên sẽ được biết đến như là live streaming hay multicast streaming mà Web server không hề hổ trợ.
Một lợi thế khác của Windows Media server là hổ trợ indexed Windows Media files (Indexing hổ trợ users các tính năng như fast-forwarding và rewinding những file đang streaming.
Giao thức trong Windows Media server
Sẳn đây chúng ta cũng nên sơ lược qua về các giao thức căn bản được hổ trợ bởi Windows Media server trước khi tiến hành việc thiết lập Windows Media server.
Giao thức truyền tải dử liệu là một dạng format chuẩn dùng để truyền dử liệu giữa hai thiết bị. Dạng giao thức nào được sử dụng là dùng để quyết định việc kiểm tra và xác định các giá trị thay đổi hay giá trị biến, phương pháp nén dử liệu và end-of-file acknowledgements. Nếu tất cả network được xây dựng theo một chuẩn đồng nhất cũng như tất cả các phần mềm về mạng hay thiết bị phần cứng đều đối xử tương xứng nhau thì chúng ta chỉ cần một giao thức là đủ để phục vụ việc chuyển tải dử liệu. Tuy nhiên trong thực tế, internet lại gồm hàng triệu network khác nhau chạy trên các phần cứng và phần mềm khác nhau. Từ chổ đó, khả năng streaming digital media content một cách ổn định tới clients phụ thuộc rất nhiều vào một vài giao thức chuẩn gọi là well-engineered protocols. Trong đó giao thức dùng để stream Windows Media-based content là:
HTTP - Hypertext Transfer Protocol
MMS - Microsoft Media Server, trong đó bao gồm
- MMST - Microsoft Media Server TCP
- MMSU -Microsoft Media Server UDP
RTSP - Real Time Streaming Protocol
- RTSPT - Real Time Streaming Protocol TCP
- RTSPU - Real Time Streaming Protocol UDP
Windows Media Services sẽ sử dụng các giao thức này bằng bộ điều khiển giao thức tích hợp trong Windows Media server, đó là những WMS MMS Control Protocol plug-in, WMS RTSP Control Protocol plug-in, và WMS HTTP Control Protocol plug-in.
Sẳn dịp đề cập đến các giao thức sử dụng trong Windows Media server cũng nên tìm hiểu cách truyển tải dử liệu theo Multicast Stream. Clients khi nhận media theo dạng multicast sẽ không sử dụng giao thức kết nối bình thường. Thay vào đó, các clients sẽ nhận các dử liệu media bằng cách gia nhập vào một nhóm multicast. Các thông tin cần thiết để client có thể xác định được vị trí cần gia nhập nhóm multicast nằm trong tập dử liệu thông tin ở dạng .nsc. Trước hết client sẽ mở tậm tin từ trên web server hay từ bất kì một link nào đó hay email và sau đó sử dụng tập tin chứa các thông tin cần thiết về vị trí nhóm multicast từ đây client sẽ gia nhập nhóm multicast này.
Giao thức MMS
Giao thức MMS (Windows Media Server) được phát triển bởi Microsoft cho các thế hệ củ của Windows Media Services. Bạn có thể sử dụng giao thức MMS khi truyền tải các media file theo dạng Unicast stream. Giao thức này hổ trợ các chức năng như chạy tới, trả lại, tạm ngưng, bắt đầu hoặc ngừng stream media file.
Lưu ý: Một vài ISA clients có thể gặp một số trục trặc khi kết nối tới port 1755. Để giải quyết lỗi này bạn cần tạo file gọi là Wspcfg.ini và save vào folder sau đây %systemroot%\Windows\System32\Windows Media\Server. Trong tập tin này bạn cần viết một script như sau đây
[WMServer]
LocalBindTcpPorts=1755
LocalBindUdpPorts=1755
Giao thức RTSP
Cũng như MMS, RTSP ngày nay được xem là giao thức chuẩn trong kỉ nghệ multimedia streaming, RTSP là dạng application-level protocol, giao thức này làm việc bằng cách bẻ nhỏ các gói dử liệu tùy theo tốc độ băng thông cho phép giữa client và server. Khi mà client đã nhận vừa đủ lượng dử liệu thì player sẽ giải nén, play gói dử liệu đầu rồi sau đó tiếp tục download gói dử liệu tiếp theo và tiếp tục play gói dử liệu kế tiế và cứ tiếp tục như vậy. Giao thức RTSP giờ đây đã được thế giới hóa và áp dụng trong hầu hết các ứng dụng streaming. RTSP cũng có những đặt điểm như MMS là hổ trợ các tính năng như fast-forwarding, rewinding, pause, start hay stop. Đối với một số media file không thể streaming bằng giao thức chuẩn của Microsoft Media Server chẳng hạn như các dạng digital media content như MPEG-4, MPEG hay AVI, RTSP sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề này.
Giao thức HTTP
Ngoài 2 giao thức kể trên bạn cũng có thể stream media file bằng giao thức phổ thông HTTP, trước khi bạn streaming bằng giao thức này thì bạn cũng nên enable WMS HTTP Server Control Protocol plug-in, bộ điều khiển giao thức này sẽ bind vào cổng (port) 80.





Trả lời với trích dẫn



