1.Khái niệm định tuyến distance vector
Trong phần này chúng ta tiếp xúc với các giao thức định tuyến động đầu tiên kiểu distance vector. Vậy định tuyến distance vector là kiểu định tuyến gì.
trước hết nói đến vector: chúng ta nói đến phương và độ lớn. Định tuyến kiểu này cũng vậy: router sẽ quan tâm xem để đến được mạng đích thì phải theo hướng nào (ra giao diện nào) và độ lớn (chi phí) là bao nhiêu.
Qui tắc hoạt động của distance vector được mô tả như sau:
-các router quảng cáo tất cả bảng routing của nó ra các giao diện( đã được khai báo trong phần cấu hình định tuyến) tới các neighbor của nó (neighbor là các router có chia sẻ chung một môi trường truyền dẫn vật lí: ví dụ kết nối wan; kết nối ethernet qua switch…). các tuyến ở đây bao gồm các mạng connected của router và các mạng router học được từ các router khác.
-đồng thời router cũng lắng nghe thông tin quảng cáo từ các router khác và do đó nó có thể học thêm các tuyến mới. Thông tin định tuyến bao gồm subnet number và một metric
(các bạn hết sức chú ý: thông tin định tuyến không bao gồm subnet mask). Metric quyết định xem đường đến một mạng là tốt hay xấu.
-khi tới phiên cập nhật bản tin định tuyến; router gửi ra các bản tin cập nhật dạng broadcast hoặc multicast. Do đó các router cùng môi trường mạng LAN có thể nhận được thông tin trong một lần cập nhật
-nếu router học được nhiều tuyến đến một mạng đích: nó sẽ chọn ra tuyến tốt nhất tới đích.nếu các tuyến có cost bằng nhau thì router sẽ đưa các tuyến vào bảng (tối đa chỉ là 6 tuyến)
-sau một thời gian không nhận được thông tin cập nhật từ một neighbor; router sẽ loại bỏ mọi tuyến học được từ neighbor ra khỏi bảng
-khi đã học được một tuyến thì router coi router quảng cáo là next-hop của nó đến mạng đích.
Chú ý: trước khi gửi thông tin định tuyến đi; router sẽ cộng thêm metric bằng 1 vào tất cả các tuyến (RIP)
2.Các biện pháp chống loop:
Routing loop ở đây các bạn hiểu là thông tin định tuyến được chuyển đi lòng vòng dẫn đến hậu quả là mạng không thể hội tụ (các router biết về tất cả các tuyến trong mạng) sau khoảng thời gian nhanh nhất. hiện tượng này xảy ra do hai nguyên nhân:
-khi trong mạng có sự thay đổi: một mạng chuyển trạng thái từ up sang down
-do thời gian hội tụ của mạng lâu
Các hiện tượng loop và cách khắc phục:
2.1.Route poisoning
hiện tượng xảy ra khi một router quảng cáo đi một tuyến từ trạng thái up sang down. Ví dụ với sơ đồ:
router A---------routerB-------network 10
giả sử mạng 10 bị down; nếu router B không quảng cáo đi thông tin về network 10; router vẫn tin rằng network 10 không bị down; khi đó gói tin gửi qua A đến 10 sẽ được A gửi sang B. tại B gói tin sẽ bị huỷ.
Để khắc phục hiện tượng đó khi có một mạng down; router sẽ quảng cáo thông tin về mạng với cost lớn nhất (infinite metric) bằng 16; khi router A nhận được thông tin về mạng 10 với cost =16; nó coi mạng 10 bị down và loại bỏ thông tin về mạng này ra khỏi bảng định tuyến. (chú ý: khi đó cost từ B đến mạng 10 sẽ là 15)
2.2.Split horizon:
Route poisoning không khắc phục được routing loop khi hai router có thời điểm cập nhật bảng tin định tuyến giống nhau.
Ví dụ :
routerA---------routerB--------mạng 10.
giả sử tại thời điểm t1: mọi thứ bình thường; router A đến mạng 10 có cost=1; router B đến mạng 10 cost =0
tại t2: mạng 10 down; đến thời điểm router B gửi bảng định tuyến; nó sẽ quảng cáo thông tin về mạng 10 có cost =16 sang A; tuy nhiên đồng thời A cũng gửi thông tin về mạng 10 cost =1 sang B. khi đó vấn đề gì xảy ra:
-A coi mạng 10 là invalid và loại bỏ ra khỏi bảng định tuyến
-B có hai tuyến đến 10: một tuyến cost=15 và một tuyến cost=2 (do A gửi sang); nó sẽ chọn tuyến qua A.
-cứ tiếp tục như thế cho đến khi cả A và B có cost đến mạng 10 bằng 16.hiện tượng gọi là count to infinity: cả hai khi đó mới loại thông tin về mạng 10 ra khỏi bảng định tuyến.
Split horizon: giải quyết vấn đề bằng cách: khi một router học được một tuyến qua một giao diện nào đó thì nó sẽ không gửi lại bản tin về tuyến đó qua giao diện đó nữa. Ví dụ: A học được thông tin về mạng 10 qua giao diện kết nối với B; khi đó A sẽ không gửi thông tin về mạng 10 cho B qua giao diện kết nối giữa A và B nữa
2.3.Split horizon với poison reverse
Đây là một phiên bản của split horizon. Khi router B gửi tin về mạng 10 sang cho A: A sẽ phá lệ; gửi lại bản tin về mạng 10 với cost=16. Bản tin này chỉ có ý nghĩa thông báo là A đã biết mạng 10 down rồi. Mục đích của việc này là router gửi (B) biết chắc chắn là tất cả các router khác có trong mạng đều biết được mạng down
2.4.Hold down timer
Split horizon chỉ khắc phục routing loop trên single link hay có kết nối point to point. với trường hợp có đường đi dư thừa tới đích thì split horizon không khắc phục được.
Xét ví dụ:
Mã:Router A----------Router B----mạng 10 \ / routerC
giả sử có 3 router kết nối như trên và vẫn giả sử thời điểm gửi bản tin cập nhật của chúng là như nhau.
mạng 10 down
Tại T1: router B gửi bản tin cập nhật về mạng 10 cost =16 tới cả A và C.
Tuy nhiên router A cũng gửi bản tin về mạng 10 cost =2 tới C.
Khi đó C sẽ chọn tuyến đến mạng 10 qua A.
Sau thời điếm này thì cost đến mạng 10 của các router như sau:
routerB: cost =15
routerA: cost =3 (qua router C)
routerC: cost =16
tại T2: C không gửi tin về mạng 10 sang cho A (split horizon) mà gửi sang cho B với cost =3; khi đó B tin là có tuyến đến mạng 10 qua C; tiếp tục đến lượt B lại gửi thông tin về mạng 10 cho A với cost =4
dĩ nhiên cho đến khi cả 3 router có cost đến 10 bằng 16 thì mạng mới hội tụ
hold down timer định ra khoảng thời gian mà trong khoảng thời gian đó; nếu một router nhận được thông tin về một mạng bị down: nó sẽ không tin bất kì thông tin nào tốt hơn về mạng này.
Mục đích chính của hold down là giúp tất cả các router đều biết về mạng bị down. Ví dụ trên: router C bỏ qua thông tin của router A. đến bước tiếp theo; A nhận thông tin mạng 10 down từ B sẽ quảng cáo cho C. khi đó các router đều biết mạng 10 down và loại bỏ mạng này ra khỏi bảng định tuyến.
2.5.Trigger update
Khi mạng thay đổi; không cần chờ đến lượt mình gửi thông tin cập nhật; các router sẽ gửi thông tin cập nhật đi ngay lập tức. Làm giảm thời gian holddown
3.RIP và IGRP
Hai giao thức distance vector điển hình. Các thông tin các bạn cần nhớ:
-distance vector quảng cáo đi cả bảng định tuyến
-quảng cáo theo chu kì
-sử dụng các kĩ thuật chống loop
-thông tin định tuyến không kèm subnet mask
Thông tin về các khoảng thời gian: update time (RIP là 30s; IGRP là 90s)
Hold down time: (RIP là 180s); IGRP là 280s
Infinte metric của RIP là 16; của IGRP là 2^32 (khoảng 4 tỉ)
RIP và IGRP hoạt động giống hệt nhau; chỉ các về cost; RIP sử dụng cost là hop count (từ router tới đích phải qua bao nhiêu router khác). Còn IGRP sử dụng 4 thông số: băng thông; độ trễ; độ tải; độ tin cậy. Mặc định sử dụng băng thông và độ trễ. Cần chú ý: các giao diện trong IGRP có băng thông mặc định là T1=1,544 Mbps. Do đó nếu băng thông cao hơn thì phải khai báo lại.
3.1.Cấu hình RIP:
rất đơn giản; các bạn vào mức global config; khai báo giao diện trên router muốn quảng cáo thông tin đi
ví dụ:
10.2.0.0-----routerA-----192.168.1.0
Router A có hai giao diện thuộc về hai mạng như trên; muốn cấu hình rip các bạn theo các bước:
routerA#conf t
routerA(config) #router rip
routerA(config) #network 10.2.0.0
routerA(config) #network 192.168.1.0
các bạn chú ý lệnh network: lệnh network dùng để match một hoặc nhiều giao diện trên router.với mỗi giao diện; câu lệnh network sẽ khiển router thực hiện các việc
-gửi broadcast hoặc multicast bản tin cập nhật ra khỏi giao diện
-lắng nghe thông tin cập nhật đến giao diện
-không gửi kèm thông tin về subnet
(các bạn có thể xem ví dụ 14 trang 311)
các lệnh kiểm tra cấu hình:
-show ip route (các tuyến RIP có chữ R ở đầu)
-debug ip rip: kiểm tra thông tin gửi ra bởi RIP
-show ip protocol
3.2.cấu hình IGRP:
khai báo thêm thông số AS number (hai router cùng AS thì mới có thể trao đổi thông tin với nhau)
routerA#conf t
routerA(config) #router igrp 10
routerA(config) #network 10.2.0.0
routerA(config) #network 192.168.1.0
3.3.Nhiều tuyến đến đích:
-khi có nhiều tuyến đường đến cùng một đích. Các router sẽ tiến hành load balancing giữa các tuyến. (mặc định là 4 tuyến; tối đa là 6)
-có hai kiểu load: equal-cost (các tuyến có chi phí bằng nhau): rip; static; ospf
-unequal-cost: igrp; eigrp
với igrp: do các cost ít khi bằng nhau nên giao thức này định ra một thông số gọi là variance. Thông số này có ý nghĩa như sau: igrp chọn tuyến có cost bé nhất; giả sử là A; số variance là 4 chẳng hạn thì tất cả các tuyến còn lại; tuyến nào có cost nằm trong khoảng A đến A*4 đều được router dùng để load balance.



LinkBack URL
About LinkBacks



Trả lời với trích dẫn
